1. Home
  2. Văn mẫu lớp 6
  3. Bài viết số 1 lớp 6 – Văn mẫu lớp 6
Hà Dím 24 giờ trước

Bài viết số 1 lớp 6 – Văn mẫu lớp 6

Bài viết số 1 lớp 6, bài văn mẫu lớp 6 sinh động, gần gũi, hỗ trợ học sinh rèn kỹ năng viết văn miêu tả, thể hiện cảm xúc và quan sát tinh tế.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 1: Đóng vai Lạc Long Quân kể lại truyền thuyết Con rồng cháu Tiên

Đề bài: Kể lại truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên” qua lời kể của nhân vật Lạc Long Quân.

Dàn ý bài viết số 1 lớp 6 đề 1

Mở bài

Giới thiệu nhân vật: Lạc Long Quân, con trai của Thần Long Nữ, thuộc dòng dõi Rồng, cai quản vùng biển Lạc Việt.

Nêu vai trò và tình huống: Kể về việc thường xuyên lên cạn giúp dân diệt yêu quái, dạy dân sinh sống. Qua đó, kể về cuộc gặp gỡ định mệnh với Âu Cơ.

Thân bài

Cuộc gặp gỡ và kết duyên:

Miêu tả vẻ đẹp của Âu Cơ và sự tương hợp giữa hai người (một người thuộc biển, một người thuộc non).

Kể về việc cả hai kết duyên vợ chồng và chung sống trên đất liền.

Sự ra đời của một trăm người con:

Sự kiện kỳ lạ: Âu Cơ sinh ra một cái bọc trăm trứng.

Quá trình phát triển: Trăm trứng nở ra một trăm người con trai, khỏe mạnh, khôi ngô, lớn nhanh như thổi.

Niềm hạnh phúc: Gia đình sống vui vẻ, ấm cúng.

Nỗi lòng và quyết định chia ly:

Nội tâm của Lạc Long Quân: Nỗi nhớ biển cả da diết và sự nhận ra bản chất khác biệt (Rồng ở nước, Tiên ở non).

Lý do chia ly: Cuộc sống không thể vẹn toàn, cần phải chia tay để các con được sống ở môi trường phù hợp.

Lời hẹn ước: Dù xa cách, vẫn sẽ luôn giúp đỡ nhau khi hoạn nạn.

Cuộc chia con lịch sử:

Năm mươi con xuống biển: Theo Lạc Long Quân, được dạy nghề đánh cá và canh tác đồng bằng.

Năm mươi con lên núi: Theo Âu Cơ, được dạy nghề trồng trọt và săn bắn.

Kết bài

Kết quả: Người con cả lên làm vua, lập nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương.

Ý nghĩa: Khẳng định nguồn gốc “con Rồng, cháu Tiên” của dân tộc và tinh thần “đồng bào” ruột thịt, đoàn kết, yêu thương.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 1 – Văn mẫu lớp 6 bài 1

Ta là Lạc Long Quân, con trai của thần Long Nữ, mang trong mình dòng máu Rồng thiêng liêng. Dù sống dưới thủy cung sâu thẳm, trái tim ta luôn hướng về cõi trần gian. Ta thường xuyên lên cạn, dùng sức mạnh của mình để diệt trừ Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh, những kẻ đã gieo rắc nỗi kinh hoàng cho dân lành. Ta cũng dạy họ cách dựng nhà, trồng lúa, để cuộc sống bớt cơ cực.

Vào một buổi chiều đẹp trời, khi đang dạo bước trên cạn, ta gặp một người con gái. Nàng có vẻ đẹp thanh khiết như sương sớm, nụ cười dịu dàng như nắng mai. Nàng là Âu Cơ, con gái Thần Nông ở vùng núi cao. Ngay từ ánh mắt đầu tiên, ta đã biết nàng chính là người ta tìm kiếm bấy lâu. Ta mạnh mẽ, uy dũng, nàng lại hiền hậu, đoan trang. Hai con người, hai thế giới, nhưng lại có một tâm hồn đồng điệu. Chúng ta kết duyên, cùng nhau xây dựng tổ ấm trên đất liền.

Hạnh phúc đến với chúng ta khi nàng Âu Cơ mang thai. Rồi một ngày, nàng sinh ra một cái bọc to lớn, phát ra ánh sáng huyền ảo. Từ cái bọc ấy, một trăm quả trứng nở ra một trăm người con trai khôi ngô, tuấn tú. Chúng lớn nhanh như thổi, không cần bú mớm mà vẫn khỏe mạnh. Cung điện Long Trang rộn ràng tiếng nói cười của một trăm người con. Nhưng trong lòng ta, một nỗi niềm da diết cứ lớn dần. Ta là Rồng, ta thuộc về biển cả, ta không thể sống mãi trên cạn được. Âu Cơ là Tiên, nàng thuộc về non cao. Cuối cùng, ta đành phải nói lời từ biệt. Ta nói với Âu Cơ: “Ta vốn là giống Rồng, nàng là giống Tiên, chúng ta khó mà sống mãi bên nhau. Ta sẽ đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi. Dù xa cách, các con phải luôn nhớ các con là anh em, là đồng bào một nhà. Có khó khăn hoạn nạn thì phải giúp đỡ nhau.”

Âu Cơ buồn lắm nhưng nàng hiểu. Cuộc chia ly diễn ra đầy xúc động. Ta đưa năm mươi con xuống biển, dạy chúng nghề chài lưới, canh tác lúa nước. Nàng đưa năm mươi con lên núi, dạy chúng săn bắn, trồng trọt. Sau này, người con trưởng theo mẹ lên núi được tôn làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đóng đô ở Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang. Dù xa cách, ta vẫn luôn dõi theo các con. Ta tự hào khi thấy con cháu ta, dù ở bất cứ đâu, cũng luôn nhớ về nguồn cội “con Rồng, cháu Tiên” của mình, luôn đoàn kết và yêu thương nhau.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 1 – Văn mẫu lớp 6 bài 2

Ta là Lạc Long Quân, con của thần Long Nữ, mang trong mình sức mạnh và trí tuệ của giống Rồng. Ta thường lên cạn, diệt trừ yêu ma, lập lại trật tự cho vùng đất Lạc Việt. Ta đã dẹp tan Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh, những thế lực tà ác đã gieo rắc nỗi kinh hoàng. Ta dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi, xây dựng nên một cuộc sống ấm no.

Vào một ngày định mệnh, ta gặp Âu Cơ, một nàng tiên xinh đẹp, con gái Thần Nông. Nàng đến từ vùng núi cao, mang theo vẻ đẹp của gió ngàn, mây trắng. Ta và nàng như hai thái cực, một người thuộc về biển sâu, một người thuộc về non cao, nhưng lại tìm thấy ở nhau sự hòa hợp tuyệt đối. Chúng ta kết duyên, xây dựng một vương triều hạnh phúc.

Ít lâu sau, Âu Cơ sinh ra một cái bọc trứng, phát ra hào quang rực rỡ. Từ đó, một trăm người con trai, mang vẻ đẹp và sức mạnh của cả Rồng và Tiên, đã ra đời. Chúng ta sống với nhau thật hạnh phúc. Nhưng ta biết, ta không thể sống mãi trên cạn được. Ta là Rồng, ta phải trở về với biển cả, với quê hương ta. Âu Cơ là Tiên, nàng thuộc về non cao. Cuộc sống của hai ta sẽ không thể bền lâu.

Ta nói với Âu Cơ, giọng ta vang lên đầy quyết đoán nhưng cũng chất chứa nỗi đau: “Ta và nàng vốn là hai giống khác nhau, ta là Rồng, nàng là Tiên. Chúng ta không thể sống mãi bên nhau. Ta sẽ đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi. Nhưng chúng ta sẽ mãi là một gia đình, và các con sẽ mãi là anh em, là đồng bào ruột thịt”. Âu Cơ đã hiểu và đồng ý.

Ta đưa năm mươi con xuống biển, dạy chúng cách đánh bắt cá, trồng lúa nước. Âu Cơ đưa năm mươi con lên núi, dạy chúng cách khai phá rừng núi, săn bắn. Người con cả theo mẹ lên núi được tôn làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, lập nên nước Văn Lang. Từ đó, dân tộc ta mang trong mình dòng máu “con Rồng, cháu Tiên”. Dù trải qua bao thế hệ, các con cháu ta vẫn luôn nhớ lời hẹn ước, luôn đoàn kết, yêu thương, xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 1 – Văn mẫu lớp 6 bài 3

Này các cháu của ta, hãy nghe ta kể một câu chuyện đã xảy ra từ rất lâu rồi, khi đất nước này còn hoang sơ và huyền ảo. Ta là Lạc Long Quân, một vị thần Rồng sống dưới biển cả. Ta có thể bay lượn, có thể hô mưa gọi gió. Ta thường lên cạn, không phải để ngao du, mà để dẹp yên những con yêu quái xấu xa.

Một ngày, khi đang ngắm cảnh đẹp của trần gian, ta gặp một nàng tiên tuyệt đẹp. Nàng tên là Âu Cơ, con gái Thần Nông. Nàng có vẻ đẹp thuần khiết như sương sớm, dịu dàng như gió núi. Ta và nàng đã đem lòng yêu thương nhau, cùng nhau chung sống trên đất liền, nơi có đủ cỏ cây, hoa lá.

Ít lâu sau, Âu Cơ có mang. Điều kì diệu đã xảy ra, nàng sinh ra một cái bọc trứng, lấp lánh như ngàn vì sao. Từ bọc ấy nở ra một trăm người con trai, khỏe mạnh và xinh đẹp. Chúng lớn nhanh như thổi, mỗi ngày đều lớn thêm một chút. Cả gia đình ta sống thật hạnh phúc và vui vẻ, tiếng cười nói rộn ràng như suối reo.

Nhưng ta không thể sống mãi trên cạn. Biển cả là quê hương của ta, nơi ta thuộc về. Âu Cơ thì hợp với núi cao. Ta và nàng biết rằng, dù yêu nhau đến đâu, chúng ta cũng không thể sống chung. Ta đành phải nói lời từ biệt. Ta nói với Âu Cơ: “Nàng hãy đưa năm mươi con lên núi, ta sẽ đưa năm mươi con xuống biển. Chúng ta sẽ chia nhau cai quản các phương. Dù xa cách, chúng ta vẫn là một gia đình, và các con sẽ mãi là anh em, là đồng bào một nhà”.

Cuộc chia ly diễn ra trong nước mắt. Nàng Âu Cơ đưa năm mươi con lên núi, lập nên một vương quốc. Người con cả được tôn làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang. Từ đó, dân tộc Việt Nam có nguồn gốc “con Rồng, cháu Tiên”. Dù sống xa nhau, các con cháu ta đều luôn nhớ đến nhau.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 1 – Văn mẫu lớp 6 bài 4

Ta là Lạc Long Quân, một trong những vị thần đầu tiên của đất Lạc Việt. Cuộc đời ta gắn liền với biển cả, với sóng vỗ và những cơn bão dữ. Ta sống dưới thủy cung sâu thẳm, nhưng tâm hồn luôn hướng về mặt đất, nơi có những con người nhỏ bé nhưng đầy ý chí. Ta lên cạn, không phải để ngao du, mà để dẹp yên những hiểm họa, để dạy họ cách sinh tồn.

Ta đã từng nghĩ, đời ta sẽ mãi gắn với biển cả cho đến khi ta gặp nàng. Âu Cơ, một nàng tiên ở chốn non cao, mang theo vẻ đẹp của núi rừng hùng vĩ. Nàng hiền hậu, dịu dàng, nhưng cũng mạnh mẽ lạ thường. Ta và nàng như hai dòng nước, một từ biển cả, một từ nguồn suối, gặp nhau và hòa quyện. Chúng ta kết duyên, cùng nhau xây tổ ấm. Hạnh phúc đến khi ta và nàng có trăm người con trai khỏe mạnh, tuấn tú.

Nhưng cuộc sống vốn dĩ không thể vẹn tròn. Ta là Rồng, không thể mãi ở cạn. Nàng là Tiên, không thể mãi ở nước. Ta đã từng nghĩ có thể thay đổi bản chất của mình, nhưng không thể. Cuộc sống trên đất liền khiến ta cảm thấy như cá mắc cạn. Ta nhận ra, việc chia tay không phải là kết thúc, mà là mở ra một tương lai mới. Một tương lai mà mỗi người con của ta sẽ được sống đúng với bản chất của mình, phát triển ở nơi phù hợp nhất.

Ta đưa năm mươi con xuống biển, dạy chúng cách dựng làng chài, đánh bắt cá. Nàng Âu Cơ đưa năm mươi con lên núi, dạy chúng cách làm rẫy, trồng lúa. Chúng ta chia nhau cai quản hai phương trời, nhưng lòng ta vẫn luôn hướng về nàng và các con. Nước Việt được chia thành hai miền, đồng bằng và miền núi, nhưng tất cả đều là con cháu của ta. Bởi vậy, dù khác nhau về cách sống, nhưng tất cả người Việt đều chung một cội nguồn, là anh em ruột thịt.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 1 – Văn mẫu lớp 6 bài 5

Này các con cháu của ta, hãy nghe ta kể về cội nguồn của chúng ta. Ta là Lạc Long Quân, con Rồng sống dưới biển. Ta hay lên cạn giúp dân, diệt trừ yêu quái, dạy họ trồng trọt.

Một ngày nọ, ta gặp nàng Âu Cơ, một nàng tiên xinh đẹp từ vùng núi. Hai ta yêu nhau và kết duyên vợ chồng. Ít lâu sau, nàng sinh ra một bọc trăm trứng. Trăm trứng nở ra một trăm người con trai khỏe mạnh, tuấn tú.

Ta và Âu Cơ sống hạnh phúc, nhưng ta là Rồng, ta phải trở về biển cả. Nàng là Tiên, nàng thuộc về non cao. Chúng ta quyết định chia tay để các con có thể phát triển ở nơi phù hợp. Ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi. Ta dặn các con, dù xa cách, các con mãi là anh em, là đồng bào một nhà.

Người con cả theo mẹ lên núi được tôn làm vua, lấy hiệu Hùng Vương, lập nên nước Văn Lang. Từ đó, dân tộc Việt Nam mang trong mình dòng máu “con Rồng, cháu Tiên”.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 1 – Văn mẫu lớp 6 bài 6

Hê, các cháu! Ngồi xuống đây, để ông Lạc Long Quân này kể cho mà nghe. Ngày xưa ấy, ông là một con Rồng, to lớn lắm, nhưng không thích sống mãi dưới biển đâu. Ông thích lên cạn, thích đi chơi, thích giúp người. Ông đã từng diệt mấy con yêu quái xấu xa lắm, như Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh ấy.

Một lần, ông lên cạn, đi mãi, đi mãi thì gặp một nàng tiên xinh đẹp. Ui chao, đẹp mê hồn! Nàng tên là Âu Cơ, từ tận trên núi cao xuống. Ông và nàng nhìn nhau, cười, rồi yêu nhau lúc nào không hay. Thế là hai đứa lấy nhau, ở chung với nhau ở một cái cung điện đẹp lắm.

Sống với nhau chưa được bao lâu thì nàng có em bé. Nàng sinh ra một bọc trứng to đùng, ai nhìn cũng sợ. Nhưng ông thì không, ông biết đó là điềm lành. Rồi một trăm quả trứng nở ra một trăm thằng nhóc, đứa nào cũng bụ bẫm, đáng yêu. Cả nhà ông lúc nào cũng rộn ràng, vui ơi là vui.

Nhưng ông là Rồng, làm sao mà ở trên cạn mãi được. Biển cả vẫy gọi ông. Mà bà Âu Cơ thì hợp với núi. Thế là ông và bà ấy quyết định, mỗi người nuôi năm mươi đứa. Ông đưa năm mươi đứa xuống biển, dạy chúng đánh cá, nuôi tôm. Bà ấy đưa năm mươi đứa lên núi, dạy chúng làm rẫy, trồng rau.

Thế đấy, con cháu của ông sau này chia nhau ra mà sống. Đứa lớn nhất thì lên làm vua, lấy tên là Hùng Vương, lập nên nước Văn Lang đấy. Thế nên các cháu ạ, dù sống ở đồng bằng hay miền núi, các cháu đều là anh em một nhà, đều là con Rồng cháu Tiên, đừng bao giờ quên nhé!

Bài viết số 1 lớp 6 đề 2: Kể lại một câu chuyện cổ tích Sọ Dừa

Đề bài: Kể lại một câu chuyện cổ tích bằng lời văn của em (Sọ Dừa).

Dàn ý bài viết số 1 lớp 6 đề 2

Mở bài

Giới thiệu câu chuyện Sọ Dừa.

Nêu hoàn cảnh đặc biệt của gia đình Sọ Dừa: Vợ chồng lão nông nghèo, hiền lành nhưng chưa có con.

Kể về sự ra đời kì lạ của Sọ Dừa: Người mẹ uống nước từ sọ dừa và mang thai.

Thân bài

Cuộc sống ban đầu của Sọ Dừa:

Hình hài kì dị: Sinh ra không chân tay, tròn như quả dừa.

Sự can ngăn của Sọ Dừa: Ngăn mẹ vứt mình đi, khẳng định mình là người.

Lớn lên: Cậu vẫn chỉ lăn lóc, không làm được việc gì.

Sọ Dừa đi chăn bò và sự thật được hé lộ:

Sọ Dừa xin đi chăn bò cho phú ông và làm việc rất giỏi, đàn bò béo tốt.

Ba cô con gái phú ông mang cơm: Hai cô chị khinh thường, cô Út hiền lành, tử tế.

Sự thật: Cô Út bí mật phát hiện Sọ Dừa có thể lột xác, trở thành một chàng trai tuấn tú và thổi sáo rất hay.

Đám cưới và cuộc sống hạnh phúc:

Sọ Dừa giục mẹ đi hỏi cưới cô Út, bà mẹ ngần ngại.

Phú ông thách cưới khó: Bày ra đủ sính lễ quý giá.

Sọ Dừa biến hóa: Đúng ngày, Sọ Dừa mang đủ sính lễ. Lột vỏ Sọ Dừa trong đám cưới, trở thành chàng trai tuấn tú khiến mọi người kinh ngạc, hai cô chị ghen tỵ.

Sọ Dừa đi thi và tai họa của cô Út:

Sọ Dừa đỗ Trạng Nguyên, được vua cử đi sứ.

Trước khi đi: Sọ Dừa đưa vợ những vật hộ thân (dao, đá lửa, hai quả trứng).

Tai họa: Hai cô chị lừa cô Út ra biển, đẩy xuống nước. Cô bị cá kình nuốt chửng.

Sự giải thoát và đoàn tụ:

Cô Út dùng dao rạch bụng cá, dạt vào đảo hoang.

Cô dùng đá lửa để sinh tồn. Hai quả trứng nở thành một đôi gà bầu bạn.

Sọ Dừa đi sứ về, nghe tiếng gà gáy trên đảo hoang.

Hai vợ chồng gặp lại nhau, đoàn tụ trong hạnh phúc.

Kết cục của hai cô chị:

Họ bị vạch trần tội ác, xấu hổ bỏ đi biệt xứ.

Kết bài

Khẳng định ý nghĩa của câu chuyện: Tấm lòng nhân hậu và vẻ đẹp tâm hồn của cô Út đã được đền đáp xứng đáng.

Nêu bài học đạo đức: “Ở hiền gặp lành”, vẻ đẹp bên trong mới là vẻ đẹp vĩnh cửu.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 2 – Văn mẫu lớp 6 bài 1

Ngày xưa, ở một vùng quê nọ, có hai vợ chồng lão nông nghèo đã ngoài năm mươi tuổi mà vẫn chưa có mụn con nào. Dù nghèo khó, nhưng họ sống rất hiền lành và chăm chỉ.

Một hôm, bà lão đi vào rừng hái củi, trời nắng gắt nên bà cảm thấy khát khô cổ. Bà tìm mãi mà không thấy giọt nước nào. Bỗng, bà thấy một cái sọ dừa đựng đầy nước mưa ở gốc cây cổ thụ. Không ngần ngại, bà bưng lên uống. Kì lạ thay, từ đó bà có thai. Ít lâu sau, chồng bà mất, bà sinh ra một đứa con không có chân tay, mình tròn như quả dừa. Bà buồn tủi, định vứt bỏ thì đứa bé cất tiếng nói: “Mẹ ơi, con là người! Mẹ đừng vứt con mà tội nghiệp!”. Thương con, bà để lại nuôi và đặt tên là Sọ Dừa.

Lớn lên, Sọ Dừa vẫn cứ tròn vo như vậy, chẳng làm được việc gì. Bà mẹ lo lắng, buồn phiền. Sọ Dừa biết vậy liền xin mẹ đến ở chăn bò cho nhà phú ông. Phú ông thấy hình dạng Sọ Dừa thì không muốn nhận, nhưng nghĩ nuôi ít tốn kém nên đồng ý. Từ đó, Sọ Dừa chăn bò cho phú ông. Cậu chăn bò rất giỏi, ngày ngày lăn theo đàn bò ra đồng, tối lại lăn theo chúng về, khiến đàn bò con nào con nấy đều béo tốt.

Đến ngày mùa, phú ông sai ba cô con gái luân phiên mang cơm cho Sọ Dừa. Hai cô chị kiêu kì, ác nghiệt, thấy Sọ Dừa xấu xí thì hắt hủi, chỉ có cô em út hiền lành, tốt bụng là đối xử tử tế. Một lần, cô Út đi đến thì bỗng nghe tiếng sáo véo von. Rón rén bước tới, cô thấy một chàng trai khôi ngô tuấn tú đang nằm trên võng thổi sáo cho đàn bò. Nhưng khi cô dẫm phải cành cây khô, chàng trai biến mất, chỉ còn Sọ Dừa nằm đó. Nhiều lần như vậy, cô Út biết Sọ Dừa không phải người thường, đem lòng yêu mến và thường xuyên mang thức ăn ngon cho cậu.

Khi Sọ Dừa giục mẹ đi hỏi cưới cô Út, bà mẹ rất ngạc nhiên. Phú ông cười mỉa mai, thách cưới bằng những lễ vật khó kiếm. Nhưng đến ngày hẹn, Sọ Dừa mang đủ lễ vật, khiến phú ông phải bất ngờ. Hai cô chị từ chối, chỉ có cô Út cúi đầu đồng ý. Ngày cưới, Sọ Dừa lột bỏ lớp vỏ, biến thành một chàng trai tuấn tú khiến mọi người ai nấy đều thán phục. Hai vợ chồng sống với nhau vô cùng hạnh phúc.

Với tài trí hơn người, Sọ Dừa đỗ Trạng Nguyên, được vua cử đi sứ. Trước khi đi, chàng đưa cho vợ một con dao, một hòn đá lửa và hai quả trứng gà để phòng thân. Ghen ghét với em, hai cô chị lừa cô Út ra biển chơi rồi đẩy xuống nước. Cô bị cá kình nuốt chửng, nhưng nhờ con dao mà thoát chết. Sống trên đảo hoang, cô dùng đá lửa để nướng cá ăn và hai quả trứng gà cũng nở thành một đôi gà đẹp làm bạn.

Một hôm, có chiếc thuyền đi ngang qua, gà trống cất tiếng gáy: “Ò… ó… o… phải thuyền quan trạng rước cô tôi về!”. Quan Trạng cho thuyền vào đón, không ngờ đó chính là vợ mình. Hai vợ chồng đoàn tụ trong niềm hạnh phúc vỡ òa. Về nhà, quan trạng mở tiệc mừng, cho mời bà con đến. Hai cô chị mừng thầm, tranh nhau kể tội cô Út, nhưng khi thấy em gái bước ra thì vô cùng xấu hổ, lẳng lặng bỏ đi biệt xứ.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 2 – Văn mẫu lớp 6 bài 2

Cuộc đời tôi, người mẹ của Sọ Dừa, đã gắn liền với sự lạ lùng và những phép màu. Ngày xưa, tôi và chồng đi làm thuê, sống hiền lành, chăm chỉ nhưng đến tuổi xế chiều vẫn không có con. Nỗi khao khát có một mụn con cứ âm ỉ trong lòng. Rồi một ngày, tôi khát nước, uống nước từ cái sọ dừa và có thai. Chẳng bao lâu, tôi sinh ra một đứa con. Tim tôi như thắt lại khi nhìn thấy hình hài kì dị của con, một đứa bé tròn vo, không chân tay. Tôi đã định vứt bỏ, nhưng tiếng nói của con: “Mẹ ơi, con là người!” đã níu giữ tôi lại. Nỗi thương con lớn hơn tất cả. Tôi đặt tên con là Sọ Dừa và dốc lòng nuôi nấng.

Sọ Dừa lớn lên, vẫn chỉ biết lăn lóc. Hàng xóm cười chê, còn tôi thì không khỏi buồn rầu. Sọ Dừa hiểu được nỗi lòng tôi, xin đi chăn bò cho phú ông. Tôi vừa mừng vừa lo, nhưng rồi cũng đồng ý. Sọ Dừa không làm tôi thất vọng. Nó chăn bò giỏi lắm, khiến đàn bò béo tốt trông thấy. Tôi thầm cảm ơn ông trời đã ban cho tôi một đứa con kì lạ nhưng tài giỏi.

Rồi một ngày, Sọ Dừa về nhà, nói với tôi một điều khiến tôi vô cùng bàng hoàng: “Mẹ sang hỏi cưới cô Út con gái phú ông cho con!”. Tôi gần như ngã quỵ. Sọ Dừa thế này thì ai mà chịu cưới? Nhưng trước sự kiên quyết của con, tôi đành nén lòng sang nói chuyện với phú ông. Bị phú ông thách cưới bằng những lễ vật quý giá, tôi nghĩ thế là xong. Ai ngờ, Sọ Dừa nói với tôi: “Mẹ cứ yên tâm, con sẽ có đủ!”. Đến ngày cưới, sính lễ đã đầy ắp sân. Tôi vỡ òa trong hạnh phúc.

Ngày rước dâu, Sọ Dừa của tôi lột vỏ, hiện ra là một chàng trai khôi ngô, tuấn tú. Tôi nhìn con mà nước mắt trào ra. Hóa ra, con tôi không hề xấu xí, chỉ là nó đang chờ đợi một người thực sự yêu thương con người bên trong của nó. Cô Út đã làm được điều đó.

Sọ Dừa sau này đỗ Trạng Nguyên, được đi sứ xa. Tôi luôn lo lắng cho con và con dâu. Nỗi lo của tôi không thừa khi biết hai cô chị đã ghen ghét, hãm hại cô Út. Nhưng nhờ những vật hộ thân mà Sọ Dừa đã chuẩn bị, cô Út đã thoát chết. Hai vợ chồng Sọ Dừa đoàn tụ, và tôi tin rằng, họ sẽ sống hạnh phúc đến già. Tôi đã nhận ra, vẻ đẹp tâm hồn mới là điều quan trọng nhất.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 2 – Văn mẫu lớp 6 bài 3

Ngày xưa, có một bà lão nghèo, nhờ uống nước từ một cái sọ dừa mà sinh ra một đứa con kì lạ, không có chân tay, người tròn vo như quả dừa. Bà đặt tên con là Sọ Dừa và hết lòng yêu thương.

Sọ Dừa lớn lên, tuy có hình hài dị thường nhưng lại có một năng lực kì diệu. Cậu xin mẹ đi chăn bò cho phú ông. Mỗi ngày, cậu lăn ra đồng, nhưng khi đàn bò đã vào bãi cỏ, cậu liền lột bỏ lớp vỏ sọ dừa, biến thành một chàng trai khôi ngô, tuấn tú. Chàng nằm trên một chiếc võng đào, thổi sáo trúc du dương. Chính nhờ tiếng sáo thần kì ấy mà đàn bò lúc nào cũng béo tốt.

Ba cô con gái của phú ông thay phiên nhau mang cơm ra đồng. Hai cô chị ác nghiệt, thấy Sọ Dừa xấu xí thì hắt hủi. Riêng cô em út, hiền lành và tốt bụng, đã phát hiện ra bí mật của Sọ Dừa. Từ đó, cô Út đem lòng yêu quý chàng trai tuấn tú ẩn sau lớp vỏ xấu xí.

Sọ Dừa hiểu được tấm lòng của cô Út, nên giục mẹ sang hỏi cưới. Phú ông thách cưới bằng những lễ vật quý giá. Nhưng nhờ phép lạ, Sọ Dừa đã có đủ sính lễ, khiến phú ông phải ngỡ ngàng. Ngày cưới, Sọ Dừa bước ra, lột bỏ hoàn toàn lớp vỏ, trở thành một chàng trai tuấn tú. Mọi người đều ngỡ ngàng trước phép biến hóa của chàng.

Sọ Dừa sau đó đỗ Trạng Nguyên và được vua cử đi sứ. Chàng dặn vợ mang theo những vật hộ thân: một con dao để chống lại hiểm nguy, một hòn đá lửa để giữ sự sống, và hai quả trứng gà để có bạn đồng hành. Nhờ những vật ấy, cô Út đã thoát chết sau khi bị hai cô chị độc ác hãm hại. Khi Sọ Dừa đi sứ về, chàng đã dùng phép thuật để tìm lại vợ. Nhờ tiếng gà gáy, chàng đã tìm thấy cô Út. Hai vợ chồng đoàn tụ trong hạnh phúc. Hai cô chị xấu hổ, bỏ đi biệt xứ.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 2 – Văn mẫu lớp 6 bài 4

Câu chuyện Sọ Dừa là sự đối lập đầy ý nghĩa giữa vẻ bề ngoài và vẻ đẹp bên trong.

Ban đầu, Sọ Dừa xuất hiện với hình hài dị thường, tròn vo không chân tay. Đó là vẻ bề ngoài mà mọi người nhìn thấy và e ngại, trừ người mẹ và sau này là cô Út. Trong khi đó, hai cô chị gái của phú ông lại có vẻ ngoài xinh đẹp nhưng lòng dạ lại hẹp hòi, độc ác. Sự đối lập này đã tạo nên một câu chuyện đầy kịch tính.

Chính nhờ tấm lòng nhân hậu của cô Út, vẻ đẹp tâm hồn của Sọ Dừa mới được khám phá. Cô không nhìn vào cái vỏ xấu xí bên ngoài mà nhìn thấy sự tốt bụng, sự chăm chỉ của Sọ Dừa. Và khi cô Út dám yêu Sọ Dừa, một bí mật đã được hé lộ: Sọ Dừa có thể lột bỏ lớp vỏ xấu xí để trở thành một chàng trai tuấn tú, tài giỏi.

Cuộc sống hạnh phúc của họ lại tiếp tục đối mặt với một sự đối lập khác: lòng ghen tỵ và lòng trung thành. Hai cô chị ghen tỵ với hạnh phúc của em gái đã rắp tâm hãm hại. Nhưng nhờ sự thông minh của Sọ Dừa và tấm lòng kiên cường của cô Út, họ đã vượt qua mọi khó khăn. Những vật hộ thân (dao, đá lửa, trứng gà) là biểu tượng của sự sống, sự bảo vệ mà tình yêu mang lại.

Cuối cùng, cái ác bị trừng phạt, cái thiện được đền đáp. Hai cô chị xấu xa phải chịu sự trừng phạt, còn vợ chồng Sọ Dừa sống hạnh phúc bên nhau. Câu chuyện là một bài học sâu sắc về cách đối nhân xử thế, khẳng định rằng vẻ đẹp tâm hồn mới là vẻ đẹp đích thực.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 2 – Văn mẫu lớp 6 bài 5

Thuở xưa, có một bà lão nghèo, nhờ uống nước trong sọ dừa mà sinh ra một đứa con hình hài kì dị, tròn vo như quả dừa. Bà đặt tên con là Sọ Dừa.

Sọ Dừa lớn lên, xin mẹ đi chăn bò thuê cho phú ông. Tuy hình hài xấu xí, nhưng cậu chăn bò rất giỏi, khiến đàn bò béo tốt. Ba cô con gái phú ông luân phiên mang cơm cho cậu. Hai cô chị khinh bỉ, chỉ có cô Út hiền lành là đối xử tốt với Sọ Dừa. Cô Út đã bí mật phát hiện ra Sọ Dừa có thể lột vỏ, trở thành một chàng trai tuấn tú, thổi sáo hay.

Sọ Dừa giục mẹ sang hỏi cưới cô Út. Phú ông thách cưới bằng nhiều lễ vật quý giá. Nhưng nhờ phép lạ, Sọ Dừa có đủ sính lễ, khiến phú ông phải đồng ý. Trong ngày cưới, Sọ Dừa lột bỏ lớp vỏ, trở thành một chàng trai khôi ngô, tài giỏi, đỗ Trạng Nguyên.

Sọ Dừa được vua cử đi sứ. Hai cô chị ghen ghét, lừa cô Út đẩy xuống biển. Cô Út bị cá kình nuốt chửng, nhưng nhờ con dao Sọ Dừa cho mà thoát chết. Cô dạt vào một đảo hoang, sống nhờ hai quả trứng gà nở thành đôi gà.

Khi đi sứ về, Sọ Dừa nghe tiếng gà trống gáy vang: “Ò… ó… o… phải thuyền quan trạng rước cô tôi về”. Chàng nhận ra vợ, đưa thuyền vào đón. Vợ chồng đoàn tụ, còn hai cô chị xấu hổ bỏ đi biệt xứ.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 2 – Văn mẫu lớp 6 bài 6

“Ở hiền gặp lành” là bài học quý giá nhất mà truyện cổ tích Sọ Dừa mang lại. Câu chuyện kể về cuộc đời của một người con trai hiền lành, tài giỏi nhưng có vẻ ngoài kì dị, và cuộc sống đầy gian nan của anh.

Sọ Dừa sinh ra đã mang hình hài khác thường, khiến nhiều người xa lánh. Nhưng sâu bên trong, cậu là một người con hiếu thảo, một người lao động chăm chỉ và đặc biệt là một chàng trai tài năng. Sự tốt bụng của cậu đã được đền đáp khi cậu được gặp cô Út, một người con gái có tấm lòng nhân hậu, nhìn thấy vẻ đẹp bên trong thay vì cái vỏ bề ngoài.

Chính nhờ tấm lòng chân thật của cô Út, Sọ Dừa đã vượt qua mọi khó khăn. Khi Sọ Dừa giục mẹ đi hỏi cưới cô Út, mọi người đều cười chê. Nhưng cô Út đã không ngần ngại, vì cô đã nhìn thấy vẻ đẹp tâm hồn của Sọ Dừa. Nhờ tình yêu ấy, Sọ Dừa đã có đủ sính lễ để cưới vợ, và lột bỏ lớp vỏ xấu xí để sống thật với con người mình.

Dù hai cô chị ghen ghét, tìm cách hãm hại, nhưng cái thiện luôn chiến thắng cái ác. Cô Út nhờ những vật hộ thân mà Sọ Dừa tặng đã thoát chết và đoàn tụ với chồng. Hai cô chị độc ác phải nhận lấy hậu quả, bỏ đi biệt xứ.

Cuộc đời Sọ Dừa và cô Út chính là minh chứng cho bài học “ở hiền gặp lành”. Tấm lòng nhân hậu, sự tử tế sẽ được đền đáp xứng đáng bằng hạnh phúc và một cuộc sống trọn vẹn.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 3: Kể lại câu chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh

Đề bài: Kể lại truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh bằng lời văn của em

Dàn ý bài viết số 1 lớp 6 đề 3

Mở bài

Giới thiệu về nhân vật Mị Nương: Vẻ đẹp, tính cách và mong muốn của vua Hùng.

Giới thiệu sự xuất hiện của hai vị thần: Sơn Tinh và Thủy Tinh đến cầu hôn cùng lúc.

Thân bài

Giới thiệu hai vị thần và tài năng:

Sơn Tinh: Vị thần núi, đại diện cho sức mạnh của đất liền. Miêu tả phép lạ: dời non lấp biển, biến đổi địa hình.

Thủy Tinh: Vị thần nước, đại diện cho sức mạnh của biển cả. Miêu tả phép lạ: hô mưa gọi gió, làm sóng thần.

Thách cưới của vua Hùng:

Sự băn khoăn của vua Hùng: Cả hai đều tài giỏi, xứng đáng.

Quyết định: Kén rể bằng lễ vật và tốc độ. Nêu rõ các lễ vật quý hiếm (voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao).

Cuộc giao tranh lịch sử:

Nguyên nhân: Sơn Tinh đến sớm, rước Mị Nương về. Thủy Tinh đến sau, tức giận vì thua cuộc, dâng nước đánh Sơn Tinh để cướp lại Mị Nương.

Diễn biến:

Thủy Tinh tấn công: Hô mưa gọi gió, dâng nước lên cao, nhấn chìm nhà cửa, ruộng đồng.

Sơn Tinh chống trả: Dùng phép dời núi, nâng đồi để chống lại. Nước dâng cao bao nhiêu, núi lại cao bấy nhiêu.

Kết quả: Sau nhiều tháng giao tranh, Thủy Tinh kiệt sức, đành rút quân.

Kết bài

Hậu quả của mối hận: Hàng năm, Thủy Tinh vẫn dâng nước đánh Sơn Tinh.

Ý nghĩa: Giải thích hiện tượng lũ lụt và thể hiện tinh thần kiên cường của người Việt cổ trong công cuộc chống thiên tai, bảo vệ cuộc sống.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 3 – Văn mẫu lớp 6 bài 1

Ngày xưa, vào đời vua Hùng Vương thứ mười tám, có một nàng công chúa tên là Mị Nương, xinh đẹp tuyệt trần, nết na thùy mị. Nàng là báu vật của vua Hùng, được yêu thương chiều chuộng hết mực. Khi Mị Nương đến tuổi cập kê, vua cha muốn kén cho con một người chồng xứng đáng. Tiếng đồn về sắc đẹp của công chúa vang xa, nhiều anh hùng tài giỏi từ khắp nơi đã tìm đến để cầu hôn.

Trong số đó, có hai người đặc biệt tài giỏi. Một người tên là Sơn Tinh, vị thần cai quản núi Tản Viên. Chàng có phép lạ, chỉ cần vẫy tay về phía Đông, phía Đông nổi cồn bãi; vẫy tay về phía Tây, nơi đó mọc lên từng dãy núi đồi. Một người khác là Thủy Tinh, vị thần cai quản biển cả. Thủy Tinh cũng tài ba không kém, chàng có thể hô mưa gọi gió, làm sóng thần dâng cao cuồn cuộn. Cả hai đều xứng đáng làm phò mã, khiến vua Hùng băn khoăn không biết phải chọn ai. Cuối cùng, vua phán: “Ta chỉ có một người con gái, không thể gả cho cả hai. Vậy ai mang sính lễ đến sớm sẽ được rước Mị Nương về làm vợ.” Vua yêu cầu sính lễ rất quý hiếm: “Một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi.”

Sáng sớm hôm sau, khi mặt trời còn chưa lên, Sơn Tinh đã mang đầy đủ sính lễ đến trước. Chàng được vua Hùng cho phép rước Mị Nương về núi. Thủy Tinh đến sau, thấy mình đã mất Mị Nương thì vô cùng tức giận. Chàng dâng nước lên cao, làm thành dông bão, sấm sét nổi đùng đùng, hòng nhấn chìm núi Tản Viên để cướp lại Mị Nương.

Thủy Tinh hô mưa gọi gió, làm nước biển dâng cao đến đâu, Sơn Tinh bốc từng quả đồi, từng dãy núi, nâng lên cao đến đó, làm cho nước không thể nào dâng ngập được. Cuộc chiến diễn ra vô cùng ác liệt, kéo dài từ ngày này qua tháng khác. Cuối cùng, sức lực của Thủy Tinh đã cạn kiệt, đành phải rút quân về.

Từ đó, năm nào Thủy Tinh cũng dâng nước đánh Sơn Tinh để trả thù mối hận cũ. Nhưng năm nào chàng cũng thua và phải rút quân về. Câu chuyện đã lý giải hiện tượng lũ lụt hàng năm ở nước ta, đồng thời ca ngợi tinh thần kiên cường, bất khuất của nhân dân ta trong công cuộc chống chọi với thiên tai.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 3 – Văn mẫu lớp 6 bài 2

Một nàng công chúa Mị Nương xinh đẹp như một đóa hoa, dịu hiền và nết na, sống trong cung vàng điện ngọc. Nàng là con gái yêu của vua Hùng thứ mười tám, được vua cha hết mực thương yêu và muốn kén cho một người chồng tài giỏi.

Hay tin vua Hùng kén rể, từ khắp nơi, những người tài ba đều tìm đến. Nổi bật nhất là hai chàng trai có tài phép hơn người. Một người tự xưng là Sơn Tinh, vị thần của núi Tản Viên. Chàng có phép lạ dời non lấp biển, chỉ cần vung tay là đất đai nhô lên thành núi, thành đồi. Một người khác là Thủy Tinh, vị thần của biển cả. Chàng có thể hô phong hoán vũ, gọi mưa gió sấm sét, làm sóng thần cuồn cuộn.

Vua Hùng rất băn khoăn. Cả hai chàng đều tài giỏi và xứng đáng với con gái mình. Cuối cùng, vua đưa ra một phép thử công bằng: “Hai chàng đều vừa ý ta, nhưng ai mang được sính lễ đến trước thì ta sẽ gả con gái cho.” Vua Hùng yêu cầu sính lễ là những vật hiếm có trên đời: “Một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao.”

Ngay lập tức, hai vị thần quay về để chuẩn bị lễ vật. Sáng sớm hôm sau, đoàn tùy tùng của Sơn Tinh đã mang đầy đủ lễ vật đến trước cửa cung điện. Vua Hùng vui mừng cho phép Sơn Tinh rước Mị Nương về núi. Thủy Tinh đến sau, không thấy Mị Nương thì đùng đùng nổi giận. Chàng hô mưa gọi gió, làm nước sông dâng cao, nhấn chìm nhà cửa, ruộng đồng, hòng cướp lại Mị Nương.

Sơn Tinh không hề nao núng. Chàng dùng phép bốc từng quả núi, từng ngọn đồi, nâng lên cao để chống lại dòng nước. Nước của Thủy Tinh dâng cao đến đâu, núi của Sơn Tinh lại dâng cao đến đấy. Cuộc chiến kéo dài nhiều tháng trời. Cuối cùng, Thủy Tinh kiệt sức đành phải rút lui.

Từ đó, năm nào cũng vậy, cứ đến mùa mưa bão, Thủy Tinh lại dâng nước lên đánh Sơn Tinh. Nhưng lần nào cũng thất bại. Câu chuyện không chỉ giải thích hiện tượng lũ lụt, mà còn là lời ca ngợi sức mạnh của con người trong công cuộc chinh phục tự nhiên.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 3 – Văn mẫu lớp 6 bài 3

Thuở ấy, có một nàng công chúa Mị Nương đẹp như một câu thơ. Nàng là con gái của vua Hùng thứ mười tám. Tên nàng như một làn gió thơm, một ánh trăng dịu, khiến bao chàng trai phải say đắm.

Trong số những người cầu hôn nàng, có hai chàng trai vô cùng đặc biệt. Một người là Sơn Tinh, thần núi, mang vẻ đẹp vững chãi, uy nghi như chính ngọn núi Tản Viên của mình. Chàng có phép lạ dời non lấp biển, làm nên những kì tích của đất đai. Một người khác là Thủy Tinh, thần nước, mang vẻ đẹp của biển cả bao la, của những con sóng mạnh mẽ. Chàng có thể hô mưa gọi gió, làm bão tố nổi lên.

Vua Hùng yêu thương con, không thể chọn một trong hai. Ngài nói: “Ai mang lễ vật đến trước, ta sẽ gả con gái cho.” Vua ra điều kiện: phải có voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi.

Sáng hôm sau, khi sương còn đọng trên lá, Sơn Tinh đã mang đầy đủ lễ vật đến. Chàng rước Mị Nương về núi. Thủy Tinh đến sau, biết mình đã mất Mị Nương thì vô cùng đau khổ và tức giận. Tình yêu đã biến thành cơn thịnh nộ. Chàng hô mưa gọi gió, làm bão tố nổi lên, nước biển dâng cao, nhấn chìm mọi thứ, hòng cướp lại người yêu.

Sơn Tinh không hề nao núng. Chàng nâng núi, bốc đồi để chống lại dòng nước. Nước dâng lên đến đâu, núi lại cao lên đến đó. Cuộc chiến của hai vị thần kéo dài như một bản hùng ca, vừa lãng mạn lại vừa bi tráng. Cuối cùng, Thủy Tinh kiệt sức đành phải rút quân về.

Hàng năm, cứ đến mùa mưa bão, người ta lại thấy Thủy Tinh dâng nước, đánh Sơn Tinh. Nhưng chàng lại thua cuộc, vì Sơn Tinh đã có Mị Nương trong vòng tay. Câu chuyện đã lý giải vẻ đẹp và sự bi tráng của tình yêu, đồng thời thể hiện sự kiên cường của con người trong cuộc sống.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 3 – Văn mẫu lớp 6 bài 4

“Sơn Tinh Thủy Tinh” không chỉ là một câu chuyện cổ tích, mà còn là một bài học sâu sắc về cuộc sống. Truyện kể về cuộc kén rể đầy kịch tính của vua Hùng thứ mười tám cho nàng công chúa Mị Nương xinh đẹp.

Hai vị thần Sơn Tinh và Thủy Tinh đều xuất hiện với tài năng hơn người. Sơn Tinh đại diện cho sức mạnh của núi, của đất. Thủy Tinh đại diện cho sức mạnh của nước, của biển. Cả hai đều có quyền năng và tài giỏi, khiến vua Hùng băn khoăn. Quyết định của vua là một phép thử công bằng: ai đến sớm và mang đủ lễ vật thì sẽ được rước dâu.

Điều này cho thấy trong cuộc sống, tài năng thôi là chưa đủ, mà còn cần sự tốc độ, sự chuẩn bị và lòng chân thành. Sơn Tinh đã có được tất cả những điều đó. Chàng đã chuẩn bị lễ vật chu đáo và đến sớm nhất. Còn Thủy Tinh, dù tài giỏi, nhưng vì thiếu sự chu đáo và đến muộn, chàng đã thất bại.

Cuộc chiến giữa hai vị thần chính là biểu tượng của cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ giữa con người với thiên nhiên. Thủy Tinh đại diện cho sức mạnh của thiên nhiên, của những trận bão lụt tàn phá. Sơn Tinh đại diện cho sức mạnh và ý chí của con người, của sự kiên cường và lòng đoàn kết. Mỗi khi Thủy Tinh dâng nước, Sơn Tinh lại nâng núi, làm cho nước không thể dâng ngập.

Câu chuyện đã cho thấy rằng, mặc dù thiên nhiên có sức mạnh ghê gớm, nhưng với ý chí kiên cường và lòng đoàn kết, con người vẫn có thể chiến thắng và bảo vệ cuộc sống của mình. Đó chính là bài học quý giá nhất mà câu chuyện này mang lại.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 3 – Văn mẫu lớp 6 bài 5

Vua Hùng thứ mười tám có một nàng công chúa tên là Mị Nương, xinh đẹp và hiền dịu. Vua muốn kén rể, có hai chàng trai đến cầu hôn là Sơn Tinh – thần núi và Thủy Tinh – thần nước. Cả hai đều tài giỏi ngang nhau.

Vua Hùng băn khoăn, bèn ra điều kiện: Ai mang sính lễ (voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao) đến trước sẽ được cưới Mị Nương. Sáng sớm, Sơn Tinh đã mang đủ lễ vật và rước Mị Nương về núi.

Thủy Tinh đến sau, tức giận vì thua cuộc, hô mưa gọi gió, làm nước sông dâng cao, nhấn chìm mọi thứ để cướp lại Mị Nương. Sơn Tinh không sợ hãi, bốc từng quả đồi, ngọn núi để nâng cao lên. Nước dâng cao bao nhiêu, núi cũng cao bấy nhiêu.

Cuộc chiến kéo dài nhiều tháng. Cuối cùng, Thủy Tinh kiệt sức, đành phải rút quân về.

Từ đó, năm nào Thủy Tinh cũng dâng nước đánh Sơn Tinh nhưng lần nào cũng thất bại. Câu chuyện giải thích hiện tượng bão lũ hàng năm ở nước ta, và ca ngợi tinh thần chống chọi với thiên tai của người Việt cổ.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 3 – Văn mẫu lớp 6 bài 6

Ngày xưa, nàng công chúa Mị Nương của vua Hùng thứ mười tám đẹp như một đóa sen trắng, thuần khiết và dịu dàng. Nàng đến tuổi cập kê, vua Hùng muốn kén cho nàng một người chồng xứng đáng.

Có hai vị thần cùng đến cầu hôn. Một người là Sơn Tinh, vị thần núi, mang vẻ đẹp vững chãi, uy nghi như chính ngọn núi Tản Viên của mình. Chàng có phép lạ dời non lấp biển. Một người là Thủy Tinh, vị thần nước, mang vẻ đẹp của biển cả, của những con sóng mạnh mẽ. Chàng có thể hô mưa gọi gió.

Vua Hùng thấy hai chàng đều tài giỏi, bèn ra điều kiện: Ai mang sính lễ đến trước sẽ được cưới Mị Nương. Lễ vật bao gồm voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao.

Sáng hôm sau, Sơn Tinh đã mang đủ lễ vật đến trước, chàng rước Mị Nương về núi. Thủy Tinh đến sau, không cưới được Mị Nương thì tức giận, lòng ghen tuông bùng lên như một cơn sóng thần. Chàng hô mưa gọi gió, dâng nước lên cao, muốn nhấn chìm tất cả để cướp lại Mị Nương.

Sơn Tinh không hề sợ hãi. Chàng bốc từng quả đồi, từng dãy núi, nâng lên cao để chống lại dòng nước lũ. Nước dâng lên đến đâu, núi cũng cao lên đến đó. Cuộc chiến giữa núi và nước diễn ra như một trận chiến giữa hai thế lực hùng mạnh nhất của tự nhiên. Sau nhiều tháng, Thủy Tinh kiệt sức, đành phải rút lui.

Hàng năm, cứ đến mùa mưa bão, Thủy Tinh lại dâng nước để trả thù. Nhưng chàng không bao giờ chiến thắng được. Câu chuyện là một lời giải thích lãng mạn cho hiện tượng lũ lụt hàng năm và là lời ca ngợi sức mạnh của con người trong công cuộc chống chọi với thiên tai.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 4: ĐKể lại truyện Thánh Gióng

Đề bài: Kể lại truyện Thánh Gióng bằng lời văn của em

Dàn ý bài viết số 1 lớp 6 đề 4

Mở bài

Giới thiệu về bối cảnh câu chuyện: Đời Hùng Vương thứ sáu, giặc Ân xâm lược, dân chúng lầm than.

Giới thiệu hoàn cảnh của Gióng: Sinh ra từ một vết chân lạ, lên ba tuổi vẫn không nói, không cười.

Thân bài

Tiếng nói đầu tiên và yêu cầu của Gióng:

Vua sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài giỏi cứu nước.

Gióng nghe tiếng rao, đột nhiên cất tiếng nói đầu tiên, yêu cầu mẹ mời sứ giả vào.

Gióng yêu cầu vua chuẩn bị ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt.

Sự lớn lên kỳ diệu:

Sau khi sứ giả về, Gióng lớn nhanh như thổi, ăn bao nhiêu cũng không no, áo vừa mặc đã chật.

Tình yêu thương của dân làng: Bà con, xóm giềng cùng nhau góp gạo, vải để nuôi Gióng.

Sự biến hóa và ra trận:

Giặc đến gần, sứ giả mang đủ lễ vật đến.

Gióng vươn vai biến thành tráng sĩ oai phong.

Gióng khoác áo giáp, cầm roi sắt, nhảy lên ngựa sắt phi thẳng ra trận.

Cuộc chiến oai hùng và sự chiến thắng:

Gióng chiến đấu dũng mãnh, giặc chết như rạ.

Roi sắt gãy, Gióng nhổ tre bên đường làm vũ khí tiếp tục chiến đấu.

Giặc Ân tan tác, phải chạy trốn.

Thánh Gióng bay về trời:

Giặc tan, Gióng phi ngựa đến núi Sóc, cởi bỏ áo giáp sắt và bay về trời.

Kết bài

Hậu quả: Vua phong Gióng là Phù Đổng Thiên Vương, lập đền thờ.

Ý nghĩa: Giải thích các di tích lịch sử (làng Gióng, ao hồ…), ca ngợi tinh thần yêu nước, sức mạnh đoàn kết của dân tộc và thể hiện ước mơ về người anh hùng cứu nước.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 4 – Văn mẫu lớp 6 bài 1

Dưới thời vua Hùng Vương thứ sáu, đất nước đang trong cảnh lầm than vì giặc Ân xâm lược. Ở một làng nhỏ, có hai vợ chồng đã già mà vẫn chưa có con. Một hôm, bà ra đồng và ướm thử chân vào một vết chân lạ. Về nhà, bà mang thai và mười hai tháng sau sinh ra một cậu bé khôi ngô, đặt tên là Gióng. Điều lạ là Gióng đã lên ba tuổi mà vẫn không biết nói, không biết cười, chỉ nằm một chỗ.

Cũng năm ấy, giặc Ân đã đến gần. Vua sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài giỏi cứu nước. Tiếng rao của sứ giả vang vọng khắp làng. Bỗng, Gióng đang nằm trên giường cất tiếng nói: “Mẹ ra mời sứ giả vào đây cho con!”. Bà mẹ vui mừng khôn xiết, vội vã mời sứ giả vào. Gióng yêu cầu sứ giả về tâu với vua, sắm cho cậu một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt để đánh giặc.

Từ sau ngày đó, Gióng lớn nhanh như thổi. Cơm ăn bao nhiêu cũng không no, áo vừa mặc đã chật. Bà con, làng xóm thấy vậy, ai cũng vui mừng, cùng nhau góp gạo, góp vải để nuôi Gióng. Ai cũng mong cậu sớm lớn để cứu dân, cứu nước.

Khi giặc đã đến chân núi Trâu, cũng là lúc sứ giả mang đủ các vật Gióng yêu cầu. Gióng vươn vai, biến thành một tráng sĩ oai phong, lẫm liệt. Chàng mặc áo giáp, cầm roi sắt, nhảy lên ngựa sắt, phi thẳng ra trận. Ngựa sắt hí vang, phun lửa. Gióng tung hoành ngang dọc, giặc chết như rạ. Roi sắt gãy, Gióng nhanh trí nhổ những bụi tre bên đường để làm vũ khí. Giặc hoảng sợ, dẫm đạp lên nhau mà chạy.

Đánh tan giặc Ân, Gióng phi ngựa lên núi Sóc, cởi bỏ áo giáp, vái tạ mẹ già và dân làng, rồi cùng ngựa bay về trời. Để ghi nhớ công ơn của chàng, nhà vua đã phong hiệu là Phù Đổng Thiên Vương và lập đền thờ tại quê nhà.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 4 – Văn mẫu lớp 6 bài 2

Lịch sử dân tộc ta ghi dấu nhiều chiến công oanh liệt, nhưng câu chuyện về Thánh Gióng vẫn là một bản hùng ca bất diệt. Truyện kể về một cậu bé kỳ lạ, lên ba tuổi vẫn nằm im, không nói không cười. Cậu sống trong thời kỳ giặc Ân xâm lược, gây ra bao tội ác cho dân lành.

Khi vua Hùng sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài, Gióng đã cất tiếng nói đầu tiên của mình. Đó không chỉ là lời nói của một cậu bé, mà là tiếng lòng của cả dân tộc, khao khát được đứng lên chống giặc. Gióng yêu cầu ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt, không phải vì cậu là người phàm, mà vì cậu muốn thể hiện sức mạnh của con người Việt Nam.

Sau khi sứ giả trở về, Gióng lớn nhanh như một phép màu. Hình ảnh cậu bé ăn khỏe, lớn nhanh như thổi, được bà con, xóm làng chung tay nuôi nấng chính là biểu tượng của tinh thần đoàn kết dân tộc. Khi đất nước lâm nguy, mỗi người dân đều sẵn sàng cống hiến, dù chỉ là một hạt gạo, một tấm vải.

Khi giặc đến, Gióng vươn vai, biến thành một tráng sĩ oai phong. Chi tiết này cho thấy sức mạnh phi thường của con người Việt Nam khi đứng trước hiểm họa. Gióng không chỉ chiến đấu bằng sức mạnh của mình, mà còn bằng lòng yêu nước nồng nàn. Khi roi sắt gãy, Gióng nhổ những bụi tre bên đường để làm vũ khí, thể hiện sự mưu trí, sáng tạo. Hình ảnh bụi tre bên đường, một vật rất đỗi bình thường, trở thành vũ khí chống giặc, cho thấy mọi thứ trong cuộc sống đều có thể trở thành sức mạnh của con người.

Khi giặc tan, Gióng không đòi hỏi vinh hoa phú quý. Chàng cởi bỏ áo giáp và bay về trời. Chi tiết này cho thấy Gióng đến từ cõi tiên, một vị anh hùng cứu nước rồi lại trở về trời, mang theo sự trong sạch và tinh thần yêu nước.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 4 – Văn mẫu lớp 6 bài 3

Vào thời Hùng Vương thứ sáu, ở một làng quê ven sông Hồng, có một câu chuyện kỳ diệu đã xảy ra. Một bà lão đã tuổi xế chiều, nhờ ướm chân vào một vết chân to lạ mà sinh ra một cậu bé. Cậu được đặt tên là Gióng, nhưng đã lên ba mà vẫn không biết nói, không biết cười. Cậu nằm im lìm như một búp sen đang chờ ngày hé nở.

Khi giặc Ân xâm lược, tiếng loa của sứ giả đi khắp nơi tìm người tài đã đánh thức Gióng. Tiếng nói đầu tiên của cậu vang lên, không phải để đòi ăn, đòi chơi, mà để yêu cầu những vật dụng để đánh giặc: ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt.

Từ ngày đó, một phép màu đã xảy ra. Gióng lớn nhanh như thổi, như một chồi non vươn mình đón nắng. Bà con, làng xóm, ai cũng yêu thương, đùm bọc, cùng nhau nuôi Gióng. Tấm lòng của người dân như dòng suối mát, nuôi dưỡng người anh hùng.

Giặc đến, Gióng vươn vai, biến thành một tráng sĩ oai phong, lẫm liệt. Chàng mặc áo giáp, nhảy lên ngựa, phi như gió, như bão. Ngựa sắt phun lửa, Gióng cầm roi sắt quật tan quân giặc. Roi sắt gãy, Gióng lại nhổ những bụi tre bên đường để làm vũ khí. Hình ảnh này thật đẹp, thật lãng mạn, thể hiện sức mạnh của con người đã được thiên nhiên ban tặng.

Đánh tan giặc Ân, Gióng bay về trời. Chàng không ở lại hưởng vinh hoa phú quý, mà trở về với cõi tiên, để lại cho dân tộc một huyền thoại bất diệt. Câu chuyện là một bản tình ca về lòng yêu nước, về sức mạnh của dân tộc và về sự bất tử của người anh hùng.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 4 – Văn mẫu lớp 6 bài 4

Truyền thuyết Thánh Gióng không chỉ là một câu chuyện cổ tích, mà còn là một bài học sâu sắc về cuộc sống và tinh thần dân tộc.

Câu chuyện bắt đầu với hình ảnh một cậu bé kỳ lạ, Gióng, lên ba tuổi vẫn không nói không cười. Chi tiết này thể hiện rằng người anh hùng không nhất thiết phải có xuất thân phi thường ngay từ đầu. Quan trọng là khi đất nước cần, người đó phải sẵn sàng đứng lên. Tiếng nói đầu tiên của Gióng, lời yêu cầu vũ khí để đánh giặc, chính là biểu tượng của tinh thần yêu nước đã ngủ yên trong lòng mỗi người dân.

Sự lớn lên kỳ diệu của Gióng, được cả dân làng chung tay nuôi nấng, đã dạy cho chúng ta một bài học quý giá về sức mạnh của sự đoàn kết. Sức mạnh của Gióng không chỉ đến từ phép màu, mà còn từ tình yêu thương và sự giúp đỡ của cộng đồng. Mỗi hạt cơm, mỗi tấm vải của dân làng đã góp phần tạo nên sức mạnh cho người anh hùng.

Chi tiết Gióng nhổ tre bên đường để đánh giặc khi roi sắt gãy cho thấy tinh thần tự lực, tự cường của dân tộc ta. Dù trong hoàn cảnh khó khăn nhất, khi vũ khí đã không còn, người Việt vẫn có thể tận dụng mọi thứ xung quanh để chiến đấu.

Cuối cùng, khi giặc tan, Gióng không ở lại hưởng công lao. Chàng bay về trời, để lại cho dân tộc một niềm tin bất diệt. Thánh Gióng là biểu tượng của sự hy sinh vì đại nghĩa, không màng danh lợi. Câu chuyện là lời nhắc nhở cho mỗi người dân Việt Nam về tinh thần yêu nước, đoàn kết và sự dũng cảm khi đất nước lâm nguy.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 4 – Văn mẫu lớp 6 bài 5

Vào đời Hùng Vương thứ sáu, giặc Ân sang xâm lược. Ở làng Gióng, có một bà lão sinh ra một cậu bé kỳ lạ, đã ba tuổi mà vẫn không nói, không cười.

Nghe tiếng rao của sứ giả tìm người tài giỏi, Gióng đột nhiên cất tiếng nói, yêu cầu vua sắm cho ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt để đánh giặc. Từ đó, Gióng lớn nhanh như thổi, ăn khỏe, mặc chật, được dân làng chung tay nuôi nấng.

Giặc Ân đến, sứ giả mang đủ lễ vật. Gióng vươn vai, biến thành tráng sĩ, mặc áo giáp, cầm roi, nhảy lên ngựa sắt phi ra trận. Gióng chiến đấu dũng mãnh, giặc chết như rạ. Roi gãy, Gióng nhổ tre bên đường làm vũ khí, đánh tan giặc.

Sau khi giặc tan, Gióng đến chân núi Sóc, cởi bỏ áo giáp và bay về trời. Vua Hùng phong hiệu cho chàng là Phù Đổng Thiên Vương và lập đền thờ. Câu chuyện lý giải các di tích và ca ngợi tinh thần yêu nước của dân tộc.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 4 – Văn mẫu lớp 6 bài 6

Một cậu bé sinh ra đã mang trong mình số mệnh phi thường. Cậu là Gióng, lên ba tuổi vẫn nằm im như một búp sen, nhưng ẩn chứa trong đó là sức mạnh của cả một dân tộc.

Giặc Ân đến, như một cơn bão dữ, tàn phá đất nước. Và tiếng loa của sứ giả, như tiếng kèn gọi tập hợp, đã đánh thức người anh hùng. Gióng nói, không phải chỉ bằng miệng, mà bằng cả trái tim yêu nước. Cậu lớn lên, không phải chỉ bằng cơm ăn, mà bằng tình yêu thương và sự đùm bọc của dân làng. Mỗi hạt gạo, mỗi tấm vải đã góp phần tạo nên một sức mạnh phi thường.

Khi ra trận, Gióng biến thành tráng sĩ, như một ngọn lửa bùng cháy, thiêu rụi quân giặc. Roi sắt của chàng, như một tia sét, giáng xuống đầu quân thù. Khi roi sắt gãy, Gióng nhổ tre, biến những bụi tre bình thường trở thành những mũi tên của sự căm thù.

Khi chiến thắng, Gióng bay về trời, như một vệt sao băng, để lại cho chúng ta một huyền thoại bất diệt. Chàng không ở lại, vì sứ mệnh của chàng đã hoàn thành. Chàng để lại cho chúng ta những di tích, như những lời nhắc nhở về một thời đại oai hùng. Câu chuyện là một lời giải thích lãng mạn về những di tích lịch sử và là một bài học sâu sắc về tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường của dân tộc ta.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 5: Kể lại truyền thuyết Bánh chưng bánh giầy

Đề bài: Kể lại truyền thuyết “Bánh chưng bánh giầy” bằng lời kể của em

Dàn ý bài viết số 1 lớp 6 đề 5

Mở bài

Giới thiệu về bối cảnh câu chuyện: Đời Hùng Vương thứ sáu, vua đã già, muốn tìm người xứng đáng để truyền ngôi.

Giới thiệu cuộc thi: Vua Hùng tổ chức một cuộc thi đặc biệt để các con trổ tài, thể hiện tấm lòng hiếu thảo.

Thân bài

Các hoàng tử chuẩn bị:

Các hoàng tử khác: Mải mê tìm kiếm sơn hào hải vị, của ngon vật lạ từ khắp nơi.

Lang Liêu: Vị hoàng tử thứ mười tám, mồ côi mẹ, chăm lo đồng áng nên không có của quý. Nỗi lo lắng và sự hiếu thảo của chàng.

Sự giúp đỡ của thần linh:

Thần báo mộng: Thần xuất hiện trong giấc mơ, chỉ cho Lang Liêu biết rằng “Trong trời đất, không gì quý bằng hạt gạo”.

Ý nghĩa lời thần dạy: Hạt gạo tuy bình dị nhưng là thức ăn nuôi sống con người, là sản vật quý giá nhất.

Lang Liêu làm bánh:

Làm bánh chưng: Chọn gạo nếp, đậu xanh, thịt lợn, gói bằng lá dong thành hình vuông.

Làm bánh giầy: Gạo nếp đồ chín, giã nhuyễn, nặn thành hình tròn.

Vua Hùng chấm thi:

Các hoàng tử dâng lễ vật quý giá.

Lang Liêu dâng hai thứ bánh giản dị nhưng đầy ý nghĩa.

Lang Liêu giải thích ý nghĩa của hai loại bánh: Bánh hình tròn tượng trưng cho Trời, bánh hình vuông tượng trưng cho Đất. Nhân bánh tượng trưng cho cỏ cây, muông thú.

Lang Liêu được truyền ngôi:

Vua Hùng khen ngợi sự hiếu thảo và tấm lòng của Lang Liêu.

Vua chọn hai thứ bánh này để tế Trời, Đất và Tiên Vương, sau đó truyền ngôi cho Lang Liêu.

Kết bài

Ý nghĩa của câu chuyện: Giải thích nguồn gốc bánh chưng, bánh giầy.

Bài học đạo đức: Ca ngợi nghề nông, đề cao sự hiếu thảo, tấm lòng chân thành và tôn vinh những giá trị truyền thống của dân tộc.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 5 – Văn mẫu lớp 6 bài 1

Vào đời Hùng Vương thứ sáu, vua đã về già mà vẫn băn khoăn chưa biết chọn ai trong số hai mươi người con trai để truyền ngôi. Vua gọi các con lại và nói: “Ta muốn tìm một người con có thể nối chí ta, không nhất thiết là con trưởng. Nhân ngày lễ Tiên Vương năm nay, ai làm một mâm cỗ vừa ý ta nhất, ta sẽ truyền ngôi cho.”

Các hoàng tử đều hăm hở, người lên rừng, kẻ xuống biển để tìm kiếm những của ngon vật lạ, sơn hào hải vị. Riêng Lang Liêu, chàng là con thứ mười tám, mẹ mất sớm nên phải sống cuộc đời lam lũ, chăm lo việc đồng áng. Trong nhà chàng không có gì ngoài lúa và khoai. Lang Liêu buồn rầu, không biết làm cách nào để có mâm cỗ quý dâng lên vua cha.

Một đêm nọ, chàng nằm mơ thấy một vị thần. Vị thần nói: “Này con, trong trời đất, không gì quý bằng hạt gạo. Hạt gạo là thứ nuôi sống con người, là sản vật quý giá nhất. Con hãy lấy gạo mà làm bánh dâng lên vua cha.”

Tỉnh giấc, Lang Liêu vui mừng khôn xiết. Chàng làm theo lời thần dạy. Chàng chọn những hạt gạo nếp trắng ngần, làm hai loại bánh. Một loại dùng gạo nếp, nhân đậu xanh và thịt lợn, gói bằng lá dong thành hình vuông. Loại bánh này gọi là bánh chưng. Một loại khác thì đồ xôi nếp lên, giã nhuyễn, nặn thành hình tròn. Loại này gọi là bánh giầy.

Đến ngày lễ, các hoàng tử mang đến những mâm cỗ lộng lẫy, đầy ắp sơn hào hải vị. Vua Hùng xem qua một lượt rồi dừng lại trước hai thứ bánh của Lang Liêu. Nghe Lang Liêu kể lại giấc mộng và giải thích ý nghĩa: bánh vuông tượng trưng cho Đất, bánh tròn tượng trưng cho Trời, vua rất hài lòng. Vua cho rằng những thứ bánh này tuy giản dị nhưng chứa đựng ý nghĩa thiêng liêng và sâu sắc.

Vua Hùng đã quyết định truyền ngôi cho Lang Liêu. Kể từ đó, bánh chưng, bánh giầy trở thành hai thứ bánh không thể thiếu trong ngày Tết của người Việt Nam.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 5 – Văn mẫu lớp 6 bài 2

Trong số hai mươi người con của vua Hùng, Lang Liêu là người thiệt thòi nhất. Chàng mồ côi mẹ từ sớm, phải tự mình lo liệu việc đồng áng. Cuộc sống lam lũ đã tôi luyện cho chàng một trái tim nhân hậu và hiếu thảo.

Khi vua Hùng muốn chọn người truyền ngôi, Lang Liêu vô cùng lo lắng. Chàng không có của quý như các anh em, chỉ có những hạt lúa, củ khoai. Chàng buồn bã và nghĩ rằng mình sẽ không thể dâng lên vua cha một mâm cỗ xứng đáng.

Nhưng rồi, một giấc mơ đã thay đổi tất cả. Vị thần xuất hiện và nói về giá trị của hạt gạo. Tỉnh dậy, Lang Liêu vỡ òa trong niềm hạnh phúc. Chàng hiểu rằng, sự hiếu thảo không nằm ở những của cải xa hoa, mà ở tấm lòng chân thành. Hạt gạo, thứ mà chàng đã đổ mồ hôi để làm ra, chính là biểu tượng của sự hiếu thảo ấy.

Lang Liêu đã làm nên hai loại bánh: bánh chưng và bánh giầy. Bánh vuông, bánh tròn, tượng trưng cho Đất và Trời, thể hiện sự biết ơn và lòng tôn kính của con người đối với đấng sinh thành và đất mẹ. Khi dâng bánh lên vua cha, Lang Liêu không chỉ dâng lên một món ăn, mà còn dâng lên cả tấm lòng của mình.

Vua Hùng đã nhìn thấy điều đó. Giữa những mâm cỗ sơn hào hải vị, vua đã chọn hai thứ bánh giản dị của Lang Liêu. Đó là một sự lựa chọn của trái tim, một sự khẳng định rằng, tình yêu thương và sự chân thành mới là điều quý giá nhất.

Từ đó, Lang Liêu được truyền ngôi. Câu chuyện về bánh chưng và bánh giầy mãi mãi là bài học về lòng hiếu thảo, về sự trân trọng những giá trị bình dị của cuộc sống.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 5 – Văn mẫu lớp 6 bài 3

Trong bối cảnh lịch sử của thời đại các vua Hùng, khi dân tộc đã dựng nên nước Văn Lang vững mạnh, vua Hùng thứ sáu quyết định tìm người nối ngôi. Một cuộc thi đã được tổ chức, không phải bằng sức mạnh quân sự mà bằng sự hiếu thảo và trí tuệ.

Các hoàng tử, những người đã quen với cuộc sống xa hoa, đua nhau tìm kiếm những vật phẩm quý giá để dâng lên vua cha. Họ tin rằng chỉ có những món ăn quý hiếm mới thể hiện được sự tôn kính của mình.

Trong khi đó, hoàng tử Lang Liêu, người sống cuộc đời giản dị, gần gũi với đất đai, lại băn khoăn. Chàng không có gì quý ngoài hạt gạo. Nhưng chính từ sự băn khoăn ấy, một điều phi thường đã xảy ra. Thần linh đã báo mộng, chỉ cho chàng thấy giá trị của hạt gạo, thứ nuôi sống con người và là kết tinh của đất trời.

Lang Liêu đã không làm bánh bằng sự xa hoa, mà bằng sự sáng tạo và tấm lòng của mình. Bánh hình vuông, tượng trưng cho Đất mẹ, nơi con người sinh sống và làm lụng. Bánh hình tròn, tượng trưng cho Trời, nơi con người hướng về. Bên trong nhân bánh là sự kết hợp của những sản vật bình dị, thể hiện sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên.

Ngày lễ Tiên Vương, Lang Liêu dâng lên hai thứ bánh, không lộng lẫy nhưng lại có ý nghĩa sâu sắc. Vua Hùng đã nhìn thấy điều đó. Ngài đã không truyền ngôi cho người có của quý, mà cho người có tấm lòng. Lang Liêu đã được chọn, không chỉ vì chàng có trí tuệ, mà vì chàng đã thể hiện được sự biết ơn đối với nguồn cội, với đất mẹ và trời cha.

Câu chuyện đã khẳng định vai trò của nghề nông trong nền văn hóa Việt, đồng thời là lời ca ngợi sự hiếu thảo và tấm lòng chân thành. Bánh chưng, bánh giầy mãi là biểu tượng của tinh thần dân tộc.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 5 – Văn mẫu lớp 6 bài 4

Truyện cổ tích Bánh chưng bánh giầy không chỉ giải thích nguồn gốc của hai loại bánh truyền thống, mà còn chứa đựng một bài học triết lí sâu sắc về giá trị cuộc sống.

Cuộc thi kén rể của vua Hùng là một phép thử về lòng hiếu thảo và sự nhận thức. Các hoàng tử khác chỉ nhìn thấy giá trị ở những vật chất xa hoa, họ đua nhau tìm kiếm “sơn hào hải vị”. Đó là cách nhìn phiến diện, chỉ chú trọng vào vẻ bề ngoài. Trong khi đó, Lang Liêu đã nhìn thấy giá trị ở những thứ bình dị nhất: hạt gạo.

Sự giúp đỡ của thần linh cho Lang Liêu là một chi tiết mang tính biểu tượng. Thần linh đã không ban cho chàng của cải, mà ban cho chàng trí tuệ. Thần đã giúp chàng nhận ra rằng, vẻ đẹp và giá trị đích thực nằm ở sự giản dị, ở những thứ nuôi sống con người. Bánh chưng và bánh giầy của Lang Liêu không chỉ là món ăn, mà là một biểu tượng về sự tôn kính, lòng biết ơn đối với Trời, Đất và tổ tiên.

Sự lựa chọn của vua Hùng cũng là một bài học. Vua đã không chọn người giàu sang, quyền lực, mà chọn người có tấm lòng. Điều này cho thấy, người đứng đầu một quốc gia phải là người hiểu được giá trị của sự giản dị, của nghề nông và của chính dân tộc mình.

Câu chuyện đã dạy cho chúng ta rằng, giá trị của một con người không nằm ở vẻ bề ngoài hay sự giàu có, mà ở tấm lòng hiếu thảo, sự chân thành và khả năng nhìn thấy cái đẹp từ những điều bình dị nhất.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 5 – Văn mẫu lớp 6 bài 5

Vua Hùng Vương thứ sáu muốn truyền ngôi cho con. Vua tổ chức một cuộc thi, ai làm được mâm cỗ vừa ý nhất sẽ được nối ngôi.

Các hoàng tử khác đua nhau tìm kiếm của ngon vật lạ. Riêng Lang Liêu, hoàng tử thứ mười tám, mồ côi mẹ, chỉ có lúa và khoai trong nhà. Chàng buồn bã.

Một đêm, chàng nằm mơ thấy thần báo mộng: “Trong trời đất không gì quý bằng hạt gạo”. Tỉnh dậy, chàng làm hai loại bánh từ gạo nếp. Bánh hình vuông tượng trưng cho Đất, nhân thịt và đậu xanh; bánh hình tròn tượng trưng cho Trời.

Ngày lễ Tiên Vương, các hoàng tử dâng những món ăn quý hiếm. Lang Liêu dâng hai thứ bánh giản dị. Vua Hùng thấy bánh của chàng tuy đơn sơ nhưng có ý nghĩa sâu sắc, lại thể hiện lòng hiếu thảo.

Vua chọn hai thứ bánh của Lang Liêu để tế Trời, Đất và Tiên Vương. Vua truyền ngôi cho chàng. Từ đó, bánh chưng, bánh giầy trở thành món ăn truyền thống, là biểu tượng của lòng biết ơn đối với tổ tiên.

Bài viết số 1 lớp 6 đề 5 – Văn mẫu lớp 6 bài 6

Một mâm cỗ ngày Tết, có bánh chưng và bánh giầy, không chỉ là món ăn mà còn là một câu chuyện.

Ngày xưa, khi vua Hùng thứ sáu muốn truyền ngôi, các hoàng tử như những cánh chim bay đi khắp nơi tìm kiếm “sơn hào hải vị” để dâng lên vua cha. Nhưng Lang Liêu, chàng hoàng tử mồ côi mẹ, lại giống như một bông lúa lặng lẽ, chỉ biết dâng tặng những gì bình dị nhất của đồng quê.

Trong giấc mơ, một vị thần đã đến và chỉ cho chàng thấy rằng, giá trị không nằm ở sự lộng lẫy, mà ở sự giản dị. Hạt gạo, thứ nuôi sống con người, chính là biểu tượng của sự sống, của tình yêu thương.

Từ lời thần dạy, Lang Liêu đã tạo nên hai loại bánh. Bánh chưng vuông vức, gói ghém sự đùm bọc, yêu thương. Bánh giầy tròn trĩnh, tượng trưng cho sự trọn vẹn, vinh quang. Hai thứ bánh, một vuông, một tròn, là sự kết hợp hoàn hảo giữa Đất và Trời.

Khi dâng bánh lên vua, Lang Liêu không chỉ dâng lên một món ăn, mà còn dâng lên một triết lí sống. Vua Hùng đã nhìn thấy điều đó. Vua chọn chàng, không phải vì chàng giàu có, mà vì chàng có tấm lòng và sự hiểu biết. Bánh chưng, bánh giầy mãi là biểu tượng của văn hóa, của lòng hiếu thảo và của tinh thần dân tộc.

Nguồn: vanmau.vn

10 lượt xem | 0 bình luận

Chức năng bình luận hiện chỉ có thể hoạt động sau khi bạn đăng nhập!